DCS

TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU ÂU CƠ Ở PHÚ THỌ

Thứ hai - 01/12/2025 02:03
Quốc Mẫu là tước hiệu được nhà vua ban phong cho một số vị nữ thần có danh vọng lớn, được ân chuẩn vào hàng “Mẫu”, thuộc lớp Mẫu thần. Ở Việt Nam, hiện tác giả mới chỉ thống kê được 7 vị nữ thần được ban phong tước hiệu Quốc Mẫu: Quốc Mẫu Âu Cơ; Quốc Mẫu Tây Thiên; Quốc Mẫu Thánh Ân Diệp phu nhân; Quốc Mẫu Vương Bà tứ vị thánh nương; Quốc Mẫu làng Vàng; Cung từ Quốc Thái Mẫu; Nguyên Từ Quốc Mẫu, Thiên Thành Thái trưởng Công chúa.
Tín ngưỡng thờ Quốc Mẫu Âu Cơ, xét từ ba phương diện truyện kể, tín ngưỡng, di tích và và lễ hội, đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Trong bài viết này, xin được góp một phần nhỏ vào việc nhìn nhận, đánh giá vai trò của Quốc Mẫu Âu Cơ trong đời sống văn hóa tín ngưỡng Việt Nam. Qua những gì khảo sát được trên địa bàn tỉnh Phú Thọ cho thấy hình tượng Quốc Mẫu thật sự là một hiện tượng văn hóa độc đáo và đặc sắc nhân văn. Quốc Mẫu Âu Cơ - người Mẹ linh thiêng, huyền thoại của dân tộc Việt Nam đã sinh ra đồng bào ta trong bọc trăm trứng; đã khởi thủy, hình thành và phát triển mỹ tục mang nét đẹp văn hóa của dân tộc, nghĩa “Đồng bào”. “Uống nước nhớ nguồn”, để tưởng nhớ công lao và thể hiện lòng thành kính đối với Tổ Mẫu Âu Cơ, nhân dân Phú Thọ đã lập đền thờ và suy tôn “Thánh quốc mẫu” để thờ phụng, hương khói muôn đời.
  Trong tín ngưỡng của người Việt cũng như của một số dân tộc thiểu số khác cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần; mẫu thần; mẫu tam phủ, tứ phủ, là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ, tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất về vai trò, ý nghĩa, giá trị và nghi thức, nghi lễ.
  Tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước ta là một tín ngưỡng bản địa, thuần Việt, lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà người dân lao động đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến. Thờ Mẹ là tín ngưỡng dân gian, chứa đựng những giá trị nhân văn, bản sắc văn hóa dân tộc, củng cố tinh thần đoàn kết dân tộc, chống thiên tai và chống giặc ngoại xâm. Điểm mốc đánh dấu sự phát triển của tín ngưỡng thờ Mẹ ở Việt Nam phải kể đến sự xuất hiện của mẹ Âu Cơ cùng với Lạc Long Quân sinh ra bọc “trăm trứng”, nở ra trăm người con trai. Truyền thuyết này nhằm tôn vinh người mẹ trong vấn đề đoàn kết cộng đồng, là sự kế thừa tín ngưỡng thờ Mẹ trong dân gian.
Mẫu Âu Cơ là nhân thần, là anh hùng văn hóa, biểu tượng văn hóa và là sợi chỉ đỏ kết nối cộng đồng. Thờ Quốc Mẫu là một trong những tập quán sinh hoạt văn hóa cộng đồng của các dân tộc Việt Nam. Tập quán này đã trở thành mỹ tục, nét văn hóa, nhân văn sâu sắc của người Việt. Tục thờ Mẫu, người Mẹ linh thiêng, huyền thoại của dân tộc Việt Nam đã sinh ra đồng bào ta trong bọc trăm trứng; đã khởi thủy, hình thành và phát triển mỹ tục mang nét đẹp văn hóa của dân tộc. 
Để tưởng nhớ công lao và thể hiện lòng thành kính đối với Tổ Mẫu Âu Cơ, nhân dân Hiền Lương, huyện Hạ Hòa (nay là xã Hiền Lương, tỉnh Phú Thọ) đã lập đền thờ và suy tôn “Thánh quốc mẫu” để thờ phụng, hương khói muôn đời. 
Ngọc phả lưu tại đền Quốc Mẫu Âu Cơ chép rằng: Đế Lai lấy Ngọc Nương phu nhân ở động Lăng Sương. Lúc sinh nàng Âu Cơ có mây lành che chở, hương rừng toả ngát. Nàng xinh đẹp lung linh như hạt ngọc trời buông, như "Tiên nữ giáng trần". Ngọc Nương vui mừng khôn xiết thường gọi con là "Đệ nhất tiên thiên công chúa". Khi lớn lên, nàng đi đến đâu trời dâm, mưa tạnh, chim ca ríu rít, muôn hoa đua nở đến đó. Đế Minh phong cho Đế Nghi làm vua ở phương Bắc, Lộc Tục làm vua ở phương Nam. Lộc Tục lên ngôi vua vào năm 2879 - TCN, xưng là Kinh  Dương Vương. Kinh Dương Vương truyền ngôi cho con là Sùng Lãm năm 2793 - TCN, xưng là Lạc Long Quân kết duyên với Âu Cơ là con gái Đế Lai và đưa về núi Nghĩa Lĩnh (Đền Hùng ngày nay). Đến kỳ khai hoa (3 năm 3 tháng 10 ngày) sinh ra 1 bọc trăm trứng, sau nở thành trăm người con trai. Khi các con đã khôn lớn Lạc Long Quân nói với Âu Cơ "Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thuỷ hoả khó hoà hợp...". Bèn chia 50 người theo mẹ lên núi, 49 người theo cha xuống biển, chia nước ra để cai trị lưu truyền dài lâu. Tôn người con cả lên làm Vua, hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Phong châu, truyền 18 đời, trị vì đất nước 2622 năm (từ năm Nhâm Tuất 2879 đến năm 258 - TCN). Các vương giả đều chia ra các ngả, cùng nhau trấn trị núi sông. Âu Cơ cùng các con đi đến đâu cũng thu phục được lòng dân. Bà dạy dân cấy lúa, làm nhiều loại bánh, trồng dâu, nuôi tằm dệt vải.
Một hôm bà cùng hai người con là Hùng Trấn Quý Minh và Hùng Trấn Bảo Quốc đến trang Hiền Lương, huyện Hạ Hoà, trấn Tây Sơn; thấy ba bề sông nước uốn quanh lung linh bóng núi, đất đai màu mỡ, cỏ cây hoa lá tốt tươi, là nơi hội tụ của cá chim, muông thú. Bà chọn nơi này làm chốn dừng chân, liền cho khai khẩn đất hoang, lập thôn ấp, dạy dân cấy lúa trồng dâu, nuôi tằm dệt vải, làm ra nhiều thứ bánh lạ. Thế rồi từ đó vùng đất này trở nên trù phú, vạn vật tốt tươi. Khi giang sơn thu về một mối, bờ cõi biên cương được mở rộng. Ngày 25 tháng Chạp năm Nhâm Thân bà cùng các tiên nữ trở về trời để lại trần gian dải yếm đa màu trông như một đám mây ngũ sắc bay lơ lửng trên nền trời xanh thẳm. Trong tâm thức của người xưa, dải yếm này như tình mẹ, như ơn đức sâu dầy của mẹ. Từ đó nhân dân đã dựng nên ngôi miếu phụng thờ đời đời hương khói Mẹ Âu Cơ trên mảnh đất Hiền Lương.
          Vua Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức năm thứ 6 (1465) sai Giám Quốc Sư đến Hiền Lương phong sắc và cấp 30 quan tiền tôn tạo miếu thờ Mẹ Âu Cơ. Thời ấy, Nho giáo được lấy làm Quốc giáo, vì vậy tên gọi đền thờ Quốc Mẫu Âu Cơ đã thay thế miếu thờ Mẹ Âu Cơ.
II- Tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ ở Phú Thọ
Nhân dân ta trên khắp mọi miền đất nước, cùng nhau hướng về đền Mẫu Âu Cơ để được dâng lên Tổ Mẫu nén hương thơm tỏ lòng thành kính và biết ơn, để lòng ta lắng lại suy nghĩ về tổ tiên, ông bà, cha mẹ; xua đi những vẩn đục, mở rộng lòng nhân ái để cuộc sống tốt đẹp hơn.
          Trong tín ngưỡng của người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác cùng sống trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam, tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến, có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần (nhân thần và thiên thần), mẫu tam phủ, tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất về nghi thức và nghi lễ.
Tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ là một thành tố quan trọng trong hệ thống Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trên vùng Đất Tổ, góp phần làm phong phú và sâu sắc thêm những hình thức tưởng nhớ, tri ân công đức tổ tiên của nhân dân ta.
Trong sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” thế kỷ XIX có ghi: “Hùng Vương dựng nước gọi là Văn Lang. Kinh Dương Vương sinh con là Sùng Lãm, gọi là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh trăm con trai. Ấy là tổ tiên của Bách Việt. Long Quân và Âu Cơ suy tôn con trưởng nối ngôi vua, lấy hiệu là Hùng Vương, dựng nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu truyền ngôi 18 đời gọi là Hùng Vương…”.
Sử sách ghi Âu Cơ con của Đế Lai, nhưng truyền thuyết lại kể Âu Cơ là một nàng tiên giáng trần. Âu Cơ là nàng tiên, khi dựng xong cơ nghiệp ắt nàng tiên phải đằng vân (trở về trời), để lại ánh hào quang muôn thuở. Cũng như Thánh Gióng, đánh xong giặc Ân không hưởng vinh hoa phú quý, đã cởi áo giáp bay về trời…
 Đại Việt sử ký toàn thư (thế kỷ 15) ghi: Lạc Long Quân tên húy là Sùng Lãm, con của Kinh Dương Vương. Vua lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh trăm trứng) là Tổ của Bách Việt.
Một hôm, vua bảo Âu Cơ rằng “Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau chung hợp khó”, bèn từ biệt chia nhau 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về miền biển (có sách chép là Nam Hải), phong con trưởng là Hùng Vương nối ngôi vua (Ngọc phả Hùng Vương).
Âu Cơ dẫn 49 người con ngược sông Thao đến Trang Hiền Lương, thấy một vùng đất sơn thủy hữu tình, chẳng khác gì tiên cảnh. Âu Cơ dừng lại, chọn Trang Hiền Lương làm nơi lập ấp sinh sống, và sai các con đi tiếp khai khẩn các vùng đất xa xôi…
          Mẫu Âu Cơ dạy dân cấy lúa, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải, bắc cầu qua khe suối, đào giếng Loan, giếng Phượng lấy nước sạch ăn uống. Khi vùng đất Hiền Lương trở nên trù phú, thấy muôn dân đã thạo nghề cày cấy, các con đi khai khẩn những vùng đất mới, vượt qua mọi núi non hiểm trở để tạo dựng cơ nghiệp cho muôn đời, Mẫu Âu Cơ mới quyết định bay về trời.
Rồi một ngày kia, vào lúc nửa đêm ngày 25 tháng Chạp, mưa to gió lớn mù mịt đất trời, Mẫu Âu Cơ cùng các tiên nữ đã bay về trời. Vì không muốn các con biết mình rời hạ giới, Mẫu vội vàng đến nỗi đánh rơi dải yếm, vướng vào ngọn đa cổ thụ cạnh giếng Loan, giếng Phượng.
Sáng hôm sau trời quang, mây tạnh, dân Trang Hiền Lương không thấy Mẫu, mọi người lo lắng bổ đi tìm. Gần trưa có người nhìn lên ngọn đa thấy có dải yếm đào vắt ngang mới biết Mẫu đã về trời. Để tri ân công đức của Mẫu, dân lập đền thờ Mẫu ngay dưới tán đa, định lệ cầu cúng một năm hai lần vào ngày Tiên Giáng mồng 7 tháng Giêng và ngày Tiên thăng 25 tháng Chạp…
          Lạc Long Quân và Âu Cơ theo truyền thuyết là một câu chuyện tình đẹp đẽ tưởng như hiển hiện từ ngàn đời nay. Câu chuyện không những cho chúng ta hiểu thêm về nguồn gốc tổ tiên với dòng giống Tiên Rồng, hiểu thêm về Quốc mẫu, về cội nguồn của mọi cội nguồn để người dân nước Việt dù ở đâu cũng là anh em, cũng bắt đầu từ một bọc trứng, từ một người mẹ vĩ đại Âu Cơ. Câu chuyện còn nói về sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên - bà mẹ thiên nhiên vĩ đại - mà chúng ta luôn tôn thờ, gìn giữ, trao truyền.
          Ngày 3/8/1991, đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ đã được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa Quốc gia. Ngày 23/1/2017, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định công nhận Tín ngưỡng thờ Mẹ Âu Cơ là Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia. Ngày 15/1/2020, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định công nhận Tượng Mẹ Âu Cơ (Niên đại thế kỷ XIX, thờ tại Đền Mẫu Âu Cơ, xã Hiền Lương, tỉnh Phú Thọ) là Bảo vật Quốc gia.
II.1- Tìm về nguồn cội tín ngưỡng thờ Quốc Mẫu Âu Cơ
          Tục thờ Mẫu Âu Cơ bắt nguồn từ truyền thuyết trăm trứng, trăm con trai của Mẹ Âu Cơ - người mẹ huyền thoại của dân tộc Việt Nam. Hiếm có một dân tộc nào trên thế giới lại có tục thờ Quốc Mẫu lạ kì như ở Việt Nam. Tục thờ Quốc Mẫu không chỉ phản ánh nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của dân gian mà còn cho thấy sự tri ân và tấm lòng tôn trọng đạo hiếu đối với tổ tiên của người Việt.
          Từ hàng nghìn năm nay, người Việt Nam luôn coi mẹ Âu Cơ như một biểu tượng bất tử về cội nguồn đời sống tinh thần. Bà được tôn phong là vị Quốc Mẫu, theo truyền thuyết là người có công khai sinh ra dòng giống người Việt bây giờ. Điều đặc biệt là sự tôn thờ ấy không chỉ ăn sâu vào tiềm thức văn hóa của người Việt và nó được biến thành một hình thái tín ngưỡng đặc sắc gắn với tục thờ Mẫu của người Việt Nam.
Theo tài liệu Hán Nôm còn lưu giữ tại đền Quốc Mẫu Âu Cơ “Ngọc phu nhân Quốc mẫu Âu Cơ cổ truyền” (lập từ thời vua Lê Thánh Tông, được Thượng thư Nguyễn Hiền sao lục), có nói: “Thánh Mẫu (Âu Cơ) lúc tuổi già thường đi du sơn thủy. Vào mùa Xuân, ngày 7 tháng Giêng, đến đây (Hiền Lương) thấy núi non sơn thủy hữu tình, đông đúc khí thiêng, là nơi sinh ra anh hào. Lập tức truyền dừng xa giá, trú tại bản trang, lập trại, mệnh cho một vương tử ở đây để khai hóa nhân dân. Sau mỗi năm, thánh Mẫu ắt đến trại một lần để thăm quang cảnh vật trù dân phú, phong tục thuần hậu, bèn triệu tập phụ lão trong trang đến tuyên thị đức ý và dạy dân biết lấy đường mía và gạo nếp làm thành bánh chay để dùng vào việc cúng tế mùa xuân. Thánh Mẫu cùng dân vui vẻ. Dân trong trang hàm ý kính yêu thánh Mẫu như từ mẫu, vỗ về an ủi như thần tiên xuống trần giới. Hạc giá bay về trời, đó là ngày 25 tháng 12, mùa Đông. Triều đình truyền lễ thành phục, truyền chỉ toàn quốc để tang. Sau triều đình xem xét biết thánh Mẫu lập trại ở bản trang, bèn sai sứ giả đến bản trang triệu tập nhân dân lập đền kỷ niệm thờ tự, bốn mùa quanh năm hưởng cúng tế”.
          Sau khi Thánh Mẫu Âu Cơ hóa, nhân dân Hiền Lương đã lập đền thờ Mẫu ngay dưới gốc đa cổ thụ, nơi dải lụa của Mẫu còn vương lại, làm nơi thờ cúng, để bày tỏ lòng tưởng nhớ, tri ân thánh Mẫu. Cách đền chừng 500m về phía Đông, nhân dân Hiền Lương còn cho xây dựng ngôi đình làm nơi thờ Đức Thánh Cả (Đức ông Đột Ngột Cao Sơn) và hai người con của ngài (Hùng Trấn Quý Minh và Hùng Trấn Bảo Quốc).
          Kể từ đó, việc thờ cúng Thánh Mẫu (nhân dân cũng thường tôn là Tổ Mẫu) tại đền Mẫu Âu Cơ ngày càng đi vào nề nếp và được nhân dân Hiền Lương duy trì tới hiện nay. Đặc biệt, hằng năm, cứ đến ngày mồng 7 tháng Giêng - ngày Mẫu hóa, nhân dân Hiền Lương lại mở lễ hội để cúng tế và tổ chức các hoạt động nhằm tưởng nhớ, tri ân công đức của Thánh Mẫu với nhân dân địa phương. Việc thờ cúng Mẫu Âu Cơ dần trở thành tín ngưỡng của người dân nơi đây và là nhu cầu tâm linh quan trọng bên cạnh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thờ cúng các Vua Hùng.
          Lễ cúng tế tại đền Mẫu Âu Cơ là hoạt động thực hành tín ngưỡng có quy mô lớn nhất trong năm, với nhiều hoạt động mang tính tâm linh do cộng đồng cư dân Hạ Hòa, Hiền Lương tổ chức và thực hiện, đã được lưu truyền ở Hiền Lương từ rất lâu.  Các hoạt động diễn ra trong ba ngày, từ mồng 7 đến mồng 9 tháng Giêng, chính hội là ngày mồng 7.

                    Mồng bảy trong tiết tháng Giêng
                    Dân Hiền tế lễ trống chiêng vang trời
          Theo truyền thống, lễ vật dâng cúng Mẫu Âu Cơ chỉ là cỗ chay, hoa quả, nên việc chuẩn bị cũng không quá phức tạp. Tuy vậy, trong các đồ dâng cúng, có một lễ vật đặc biệt, không thể thiếu, và đã trở thành nét riêng độc đáo trong lễ hội này, đó là Bánh mật - còn gọi là bánh Giằng, thì năm nào cũng được chuẩn bị hết sức chu đáo. Đây chính là loại bánh mà theo truyền thuyết, Mẫu Âu Cơ đã dạy cho nàng út con vua hay dạy cho dân làng Hiền cách làm. Vì thế, năm nào cũng vậy, dân làng đều chuẩn bị đúng 100 bánh mật (bánh Giằng) để dâng lên Mẫu. Theo họ, việc này hàm ý đây là 100 chiếc bánh của 100 người con của Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long Quân.
          Vào sáng sớm mồng 7, những người trực tiếp đảm nhận các công việc của cuộc rước và dân làng đã tập trung đông đủ ở sân đình, với những bộ lễ phục, trang phục nghiêm chỉnh, đẹp đẽ, đủ các sắc màu. Mở đầu là cuộc lễ Đức Thánh/Thành hoàng làng, do đội tế nam thực hiện. Ngay sau khi cúng lễ xong, đoàn rước kiệu Thánh từ đình ra đền Mẫu Âu Cơ được khởi hành. Trong tiếng trống chiêng, nhạc bát âm rộn vang, dẫn đầu đoàn rước là cờ thần, các đồ tế khí, rồi đến cỗ kiệu thánh - kiệu bát cống, do trai tráng trong làng được lựa chọn cùng khiêng. Sau kiệu bát cống là các vị chức sắc địa phương, các vị bô lão, rồi đến dân làng tham gia trảy hội. Đoàn rước kéo đi thành một vệt dài, sắc màu rực rỡ, âm nhạc vang lừng, tạo thành một khung cảnh vừa hết sức trang nghiêm, vừa thực sự tưng bừng, nhộn nhịp.
          Một trong những nghi lễ đặc biệt thiêng liêng trong Lễ hội đền Mẫu Âu Cơ là cuộc tế do đội tế nữ chủ trì. Đội tế nữ gồm 14 người, bao gồm những cô gái thanh tân, có sức khỏe, nhanh nhẹn, phẩm hạnh tốt, gia đình không có vướng bụi, được dân làng lựa chọn từ trước. Các cô gái trong đội tế đều mặc áo dài, đầu đội khăn kim tuyến, chân đi hài thêu… Chỉ riêng cô chủ tế là trang phục hoàn toàn màu đỏ. Trong tiếng trống chiêng trầm hùng, tiếng nhạc bát âm réo rắt, giữa không khí trong đền hương trầm tỏa ngát, cuộc tế lễ diễn ra hết sức thiêng liêng. Tất thảy dân làng và người dự hội cùng hướng vào đền, bày tỏ lòng thành kính tưởng nhớ, ngưỡng vọng Thánh Mẫu. Theo dân truyền, đền Mẫu từ xưa đã nổi tiếng linh thiêng. Thánh Mẫu không chỉ phù hộ cho dân Hiền Lương luôn được nhân khang vật thịnh, mùa màng tươi tốt, cuộc sống no lành, mà mọi người lòng thành đến lễ ở đây cũng luôn được Thánh Mẫu phù hộ cho gia đình và bản thân được an khang, làm ăn phát đạt, gặp được nhiều điều tốt lành trong cả năm,...

          Tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ tại đền Mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương, Hạ Hòa có giá trị lịch sử sâu sắc: Được ra đời và tồn tại trên vùng Đất Tổ, gắn liền và phản ánh sinh động huyền thoại Lạc Long Quân - Âu Cơ và bọc trăm trứng. Tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ tại đền Mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương, Hạ Hòa là một sáng tạo văn hóa độc đáo nhằm ghi nhớ, khẳng định và tôn vinh lịch sử nòi giống Tiên Rồng của dân tộc Việt Nam. Hình tượng Cha Rồng - Mẹ Tiên vĩ đại, cụ thể ở đây là hình tượng Mẹ Tiên, là kết tinh của những cốt lõi lịch sử, mang đậm tính nhân văn sâu sắc, là đặc trưng văn hoá thể hiện bản sắc của dân tộc Việt Nam. Chính ý thức tự tôn dân tộc, tình yêu nước nồng nàn, luôn kề vai sát cánh, đoàn kết bên nhau với ý thức cùng chung nguồn cội “đồng bào”, cần cù và sáng tạo trong công cuộc chế ngự thiên nhiên, anh dũng đấu tranh với mọi kẻ thù xâm lược để bảo vệ và xây đắp nên Tổ quốc Việt Nam tươi đẹp, của các thế hệ người Việt Nam, đã tạo nên sức sống lâu bền của Tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ tại đền Mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương, Hạ Hòa qua trường kỳ lịch sử.
          Với ý nghĩa thiêng liêng và sức lan tỏa ngày càng rộng rãi của Tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ tại đền Mẫu Âu Cơ, xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, Khu di tích đền Mẫu Âu Cơ hiện nay trở thành nơi hội tụ của con cháu từ khắp mọi miền đất nước tìm về cội nguồn dòng giống Lạc Hồng. Ngày 23/01/2017 tại Quyết định số 217/QĐ-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, Tín ngưỡng thờ Mẫu tại đền mẫu Âu Cơ, xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa đã chính thức được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và trở thành điểm du lịch tâm linh hấp dẫn, không thể thiếu của mỗi chuyến hành hương về Đất Tổ của du khách thập phương.
          Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ tại đền Mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương, tỉnh Phú Thọ chính là môi trường giáo dục cụ thể, sâu sắc và hết sức hiệu quả về truyền thống yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, thành kính ngưỡng vọng và tri ân tổ tiên cùng những người có công với quê hương, đất nước của các thế hệ người Việt Nam.
          II.2- Ý nghĩa, giá trị Tín ngưỡng thờ Quốc Mẫu Âu Cơ
Tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ gắn liền với sự tri ân công đức người Mẹ của muôn dân. Đó là Mẹ Âu Cơ, người đã đưa đàn con đi khai sơn phá thạch, mở mang, bờ cõi. Mẹ Âu Cơ bước ra từ trong huyền thoại vốn là một người mẹ như bao người mẹ Việt khác, bình dị, đảm đang, chịu thương chịu khó và rất mực yêu thương các con. Mẹ Âu Cơ dừng chân nơi mảnh đất trù phú Hiền Lương đã dạy muôn dân trồng lúa nước, nuôi tằm, dệt vải, đánh bắt cá, hái lượm… Bởi vậy, hình tượng Mẫu Âu Cơ luôn gắn với nền văn minh nông nghiệp, là người Mẹ xứ sở. Đền Mẫu Âu Cơ ở xã Hiền Lương, bức tượng Mẹ Âu Cơ luôn tỏa ra một nét đẹp thanh cao, đôn hậu, giản dị mà gần gũi. Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam bắt nguồn từ chính tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ ở đền Mẫu tọa lạc tại xã Hiền Lương.
          Tín ngưỡng về các vị thần có công với non sông gấm vóc đã là nét văn hóa đặc sắc từ ngàn đời của người dân Việt Nam. Cùng với các sinh hoạt thường ngày được lặp đi lặp lại trong lịch sử tới ngày nay, những lễ nghi tôn kính các vị thần đã trở thành phong tục, tập quán thể hiện đạo lý truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Các thực hành trong lễ hội, các nghi lễ dân gian, các câu chuyện về các Quốc Mẫu luôn được cộng đồng gìn giữ và lưu truyền để trở thành nét đẹp văn hóa đặc sắc của các vùng quê Việt Nam.
          Niềm tin của người dân các thế hệ đã khiến lịch sử ngàn năm của dân tộc trở nên gần gũi, thân thuộc và gắn bó với cuộc sống hàng ngày. Tổ Mẫu Âu Cơ đã trở thành biểu tượng văn hóa của dân tộc Việt Nam. Từ đồng bọc trăm trứng nở ra trăm người con trai mạnh khỏe, tài giỏi và đức độ đã đi vào lịch sử dân tộc cùng hai tiếng đồng bào (cùng một bọc sinh ra) trong niềm tự hào là con cháu Rồng, Tiên, dòng dõi Hùng Vương.
          Người dân xã Hiền Lương, tỉnh Phú Thọ từ bao đời nay luôn nhớ về các địa danh:  núi Nả, núi Giác, gò CâyThị, gò Cây Dâu, giếng Loan, giếng Phượng,... và họ khắc ghi sâu sắc câu chuyện Mẹ Âu Cơ dạy dân làm bánh Giằng, bánh Ót, về dải lụa đào Mẹ để lại cho con cháu trước khi bay về cõi Tiên vào ngày mồng 7 tháng Giêng năm Âm lịch. Ngày nay, đền thờ Mẹ Âu Cơ được xây dựng ở nhiều nơi, khắp các tỉnh thành trong cả nước, song tập trung chủ yếu là từ thành phố Huế trở ra miền Bắc và đó đây còn cả ở nước ngoài, nơi có cộng đồng người Việt đang sinh sống. Hình ảnh Tổ Mẫu Âu Cơ, sự khởi nguồn của Bà Mẹ Việt Nam vĩ đại luôn luôn hiện hữu và đồng hành cùng con cháu, đặc biệt gắn với thời khắc linh thiêng trong các lễ hội của cộng đồng sẽ mãi mãi là nét văn hóa đặc trưng của người Việt. Sự ghi nhận của quốc tế khi UNESCO ghi danh “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” là di sản văn hóa đại diện của nhân loại càng củng cố thêm niềm tin yêu, kính trọng Mẹ Âu Cơ trong tâm trí và các thực hành văn hóa cũng như đạo lý của dân tộc Việt Nam. Quốc Mẫu Âu Cơ không chỉ được thờ phụng trực tiếp tại xã Hiền Lương, tỉnh Phú Thọ mà còn mở rộng các nơi trên biên cõi Việt Nam.
II.3- Những đền thờ Quốc Mẫu tiêu biêu ở Phú Thọ
II.3.1- Đền Quốc Mẫu Âu Cơ xã Hiền Lương
Đền Mẫu Âu Cơ thuộc xã Hiền Lương, tỉnh Phú Thọ là nơi thờ phụng, tưởng nhớ công ơn Mẹ Âu Cơ, người mẹ huyền thoại, linh thiêng, huyền diệu có công đầu trong việc khai hoang, mở cõi của dân tộc của muôn dân đất Việt.
Đền được xây dựng trên một khoảng đất cao rộng giữa cánh đồng, mặt quay về hướng chính Nam, bên tả có giếng Loan, bên hữu có giếng Phượng, phía trước có núi Giác làm tiền án, phía sau là sông Hồng uốn lượn bao quanh. Qua nhiều lần tôn tạo, tu sửa hiện nay đền có kiến trúc chữ Đinh (J), kết cấu vì kèo theo kiểu chồng giường, kẻ bảy, lợp ngói mũi hài. Nghệ thuật điêu khắc, trang trí trên các đầu dư, đầu bảy, xà ngang, cốn nách, câu đầu, cửa võng được đục trạm hết sức công phu. Trạm tứ linh, tứ quý là đề tài chủ yếu của mỹ thuật đương thời. Các bức trạm này được đục bong, chạm thủng và được sơn son thiếp vàng lộng lẫy, uy nghiêm.
Thượng cung cao 2,2m là nơi đặt khám thờ Mẹ, diềm xung quanh cửa khám chạm thủng nhiều lớp theo đề tài tứ quý: Tùng, cúc, trúc, mai. Trong lòng khám đặt tượng Mẹ Âu Cơ ngồi trên ngai báu. Mẹ mặc áo đỏ đầu đội mũ lấp lánh kim cương, cổ đeo vòng vàng, bàn chân đi hài. Tượng được tạc vào thời Lê, có giá trị cao về nghệ thuật tạo hình và thẩm mỹ. Trong đền còn nhiều di vật quý như long ngai, sập thờ... được đục trạm tỉ mỉ và tinh tế.
Đền Quốc Mẫu Âu Cơ xưa kia chỉ thờ một mình Mẫu. Có pho tượng Mẫu bằng gỗ quý cao 93cm ngồi trên long ngai, hai tay tì lên đầu gối, mặc áo đại trào, đầu đội mũ miện, chân đi hài cong.
Theo sử sách, đời vua Lê Thánh Tông, năm thứ 6 niên hiệu Quang Thuận (Tây lịch 1465). Khi ấy Vua Lê Thánh Tông sai Giám Quốc Sư đến Hiền Lương phong Thần, cấp tiền xây dựng đền thờ Mẫu Âu Cơ. Ngôi đền thờ Quốc Mẫu có từ đó. Đền trông hướng chính nam, phía trái có giếng Loan, phía phải có giếng Phượng, phía trước có ao sen, sông Hồng như dải lụa đào bao quanh. Ngôi đền nằm dưới tán cây đa cổ thụ, trên một vùng đất phẳng rộng lớn, cạnh quốc lộ 32C nối các tỉnh phía Tây Bắc với Thủ đô Hà Nội.
          Do thời gian và thiên tai, ngôi đền cổ xưa không còn nguyên vẹn, song qua những lần bảo tồn, tôn tạo, ngôi đền vẫn giữ được kiến trúc thuở ban đầu. Đền được xây dựng kiểu chữ nhất, năm gian vững chãi, dựng trên một khoảng đất cao, giữa cánh đồng rộng, sau đền có cây đa cổ thụ, cành lá sum suê, tạo nên nét thâm nghiêm, tĩnh mịch.
Điện thờ có hai khối, bên ngoài thờ Vua Hùng và tướng lĩnh, với các ngai bài vị chạm lưỡng long chầu nguyệt, hoặc chạm các hoa văn khác với kỹ thuật đục bong, thủng rất công phu, tinh xảo, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Bên trong, phía trên cao là khám thờ đặt tượng Mẫu Âu Cơ. Diềm khám thờ được chạm hoa văn tứ quý (tùng, trúc, cúc, mai).
          Tượng Mẫu Âu Cơ (có chất liệu bằng gỗ mít; có niên đại Thế kỷ XIX ) ở tư thế ngồi uy nghiêm trên ngai. Mẫu Âu Cơ mặc áo đỏ, yếm trắng, một tay cầm viên ngọc, tay kia đặt trên đầu gối, chân đi hài cong, đầu đội mũ lấp lánh, nước da hồng, vẻ mặt đôn hậu. Tượng Mẫu Âu Cơ được thờ trong hậu cung, ngay tại tòa chính điện của Khu di tích lịch sử quốc gia đền Mẫu Âu Cơ. Tượng có chiều cao tổng thể 149cm (cả tượng và ngai), tượng cao 102cm, chiều dầy nhất 39cm, chiều rộng nhất 44cm; bệ tượng cao 46cm, dài 75cm, rộng 72cm. Tượng ngồi trên bệ kỳ lân, được đặt trong lòng ngai, tạo cho đức Mẫu có một phong thái uy nghi, đường bệ, đúng với tư chất của một vị vua, được cả nước suy tôn là Quốc Mẫu. Tượng có tư thế ngồi, hai tay đặt trên gối với các ngón tay trong thế kết ấn. Khuôn mặt thánh thiện với vầng trán cao, sống mũi dọc dừa, tai chảy, cổ cao ba ngấn, đầu đội vương miện, chạm khắc khá tinh tế và chuẩn mực với ba lớp: lớp dưới ôm sát đầu, chạm hồi văn hạt xoàn; lớp giữa trang trí vân vân và hoa cúc; lớp trên cùng chạm băng cánh sen mềm mại. Trên cả ba lớp mũ là lọn tóc búi cao ở giữa đỉnh đầu, được khuất lấp bằng một tấm che tóc, cũng được chạm khắc cầu kỳ với họa tiết hoa văn hình lá đề - loại hoa văn biểu trưng cho nhà Phật. Tượng có thân hình thon thả, mềm mại, khoác trên mình hai lớp áo. Áo ngoài trang trí hoa văn cầu kỳ, qua những nét chạm tinh xảo, khuôn trong những vòng tròn hoặc bán nguyệt, hình ảnh đôi phượng chầu chữ “Thọ”, vân vân… dát vàng quỳ trên nền đỏ tía, tạo ấn tượng đối nghịch về màu sắc, nhưng lại rất hài hòa với sắc độ của tượng thờ khi đã xuống màu bởi thời gian. Áo khoác buông phủ tới tận mũi hài, đặt trên bệ kỳ lân nằm phủ phục.
          Tượng Mẫu Âu Cơ được diễn tả như người thật trên cả hai phương diện kích thước và tỷ lệ, với những mảng chạm khắc với kỹ thuật sơn son thếp vàng đạt tới đỉnh cao của nghề sơn son truyền thống. Quốc mẫu đội vương miện, được chạm khắc tinh tế và chuẩn mực, hiền thục nhưng uy nghi trên ngai vàng bề thế, có sự khác biệt hoàn toàn với những tượng Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ,…Tượng Mẫu đền Âu Cơ chứa đựng nhiều yếu tố của nghệ thuật cung đình, ngồi trên ngai vua với biểu tượng rồng, là biệt lệ độc nhất vô nhị, mang giá trị độc đáo so với những tượng Mẫu khác. Những yếu tố của Đạo, Phật, Nho trên pho tượng cũng thể hiện đặc điểm tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam với sự song hành của ba tôn giáo.
          Ngoài tượng Mẫu là cổ vật linh thiêng, ngôi đền còn lưu giữ được những bức chạm gỗ quý giá, tượng đức ông, long ngai, khám thờ.
          Trong những năm gần đây, Đền Mẫu Âu Cơ đã được Nhà nước đầu tư, nhân dân công đức chỉnh trang, tôn tạo ngày càng khang trang, bề thế. Đền Mẫu Âu Cơ ngày càng tôn nghiêm, xứng với tầm vóc và ý nghĩa lịch sử, thỏa mãn ước nguyện của con dân mọi miền đất Việt.
 Hàng năm lễ hội đền mẫu Âu Cơ được tổ chức từ mồng 5 đến mồng 7 tháng giêng âm lịch. Ngày lễ chính được tổ chức trong ngày "Tiên giáng": mùng 7 tháng giêng. Ngoài ra trong năm còn có các ngày lễ khác như 12 - 3; 13 - 8; ngày "Tiên thăng" 25 tháng chạp âm lịch.
          Lễ hội đền Mẫu Âu Cơ thu hút đông đảo khách thập phương về bái lễ tưởng nhớ công đức người mẹ hiền. Theo nghi lễ truyền thống, ngay từ sáng sớm, đội tế nam rước kiệu Thành Hoàng làng từ đình làng về đền giữa dòng người rực rỡ cờ Tổ quốc, cờ thần, cờ hội và âm vang tiếng trống, tiếng chiêng của ngày hội. Đúng 8 giờ sáng, đám rước vào đến sân đền.
          Trong không khí trang trọng, mang màu sắc tưởng niệm từ âm thanh của phường bát âm đến hương thơm lan tỏa từ lư hương trầm..., lãnh đạo địa phương đọc văn tế Tổ Mẫu Âu Cơ, ca ngợi công lao to lớn của Mẹ Âu Cơ - người có công sinh thành 100 người con, cội nguồn của dân tộc Việt Nam và cầu cho quốc thái dân an...
          Tiếp đó, đội tế nữ gồm 12 thiếu nữ đẹp được lựa chọn thực hiện nghi lễ tế nữ - đây là nghi lễ thu hút sự chú ý nhất của nhân dân. Sau phần tế nữ là lễ dâng hương Mẹ Âu Cơ với lễ vật gồm 100 cầu bánh ngọt, 100 phẩm oản, hoa quả...
Hiện nay tại dền còn lưu giữ bản “Văn tế Vương Mẫu Âu Cơ” cổ:
“ Trước điện vàng cúi đầu kêu rằng:
Khí thiêng vằng vặc, khắp trời Nam đây đó phụng thờ
Lượng cả bao dung, lừng đất Việt đời đời kính mộ
Nhớ xưa vương Mẫu
Hồng Lạc duyên xưa
Phong Châu đô cũ
Rồng tiên hợp lại, nở sinh ra một bọc trăm trai
Hoà hiếu một nhà, dựng lên nước Văn Lang ngàn thủa
Là Thánh Mẫu, là Tổ Mẫu sách sử tường ghi
Này thang Mộc, này Linh từ sắc phong đã rõ
Chứa chan ơn trạch, khơi sông Thao, bồi núi Nả biết mấy sơn hà
Lộng lẫy uy nghi, từ ải Bắc thành Nam đền thờ Đức Tổ
Non vàng bể Bắc, như hoa thêu, như gấm dệt, đã vẻ vang thời Hồng Lạc.
Phong Cương
Của đủ người đông, có sức mạnh, có tài hay, càng bền vững buổi Á, Âu phong vũ.
Đường ca ngõ hát, đất lê dân tới cõi xuân đài
Nước thịnh dân yên, dẫn thái vận dài ngôi bảo tổ
Tiết thuộc Vương xuân
Tiệc mừng thánh thọ
Hương thơm, rượu nhạt, kính dâng lên trước mắt điện vàng
Lễ bạc, lòng thành, xin soi thấu tấm lòng con đỏ”.
Đền Quốc Mẫu Âu Cơ, xã Hiền Lương, tỉnh Phú Thọ tồn tại cho đến nay đã trải qua hơn 05 thế kỷ, với nhiều lần trùng tu tôn tạo, được các triều đại phong kiến Việt Nam ban sắc phong công nhận phụng thờ. Ngày 03/8/1991, đền Mẫu Âu Cơ đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công nhận di tích lịch sử - văn hóa quốc gia. Ngày 23/01/2017, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã quyết định công nhận tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Tượng Mẫu Âu Cơ hiện đang lưu giữ tại Khu di tích Đền Mẫu Âu Cơ, xã Hiền Lương, tỉnh Phú Thọ, được công nhận là Bảo vật quốc gia tại Quyết định số 88/QĐ-TTg ngày 15/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ.
          III.3.2- Đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ trong quần thể di tích đền Hùng
          Trên bản đồ Việt Nam, Đền Hùng không phải là tên gọi của 1 đơn vị hành chính nhưng mỗi khi nhắc đến Đền Hùng là trong tâm trí của những người dân đất Việt dù sinh sống ở trong nước hay đang định cư ở nước ngoài đều nhớ ngay Đền Hùng thuộc xã Hy Cương, tỉnh Phú Thọ; là nơi thờ tự các Vua Hùng, tổ tiên của dân tộc Việt Nam, di sản văn hóa đặc biệt của quốc gia và luôn tự hào với những giá trị độc đáo và riêng biệt, ngày 6/12/2012, tại Paris (Pháp), UNESCO đã chính thức ghi danh Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là di sản đầu tiên của Việt Nam được ghi danh ở loại hình tín ngưỡng. Đây cũng là lần đầu tiên UNESCO ghi danh tín ngưỡng thờ Tổ là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
          Trong tâm thức của mỗi người con đất Việt, Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ là khởi nguồn của cộng đồng người Việt. Theo truyền thuyết: Mẹ Âu Cơ vốn là con gái của Đế Lai ở động Lăng Sương (xã Tu Vũ, tỉnh Phú Thọ ngày nay). Khi Âu Cơ cất tiếng khóc chào đời thì hương thơm tỏa ngát, trên trời có mây lành che chở, điềm báo “Tiên nữ giáng trần”. Âu Cơ được Lạc Long Quân kén làm vợ và đưa về núi Nghĩa Lĩnh, sau đó sinh ra bọc trăm trứng nở ra một trăm người con trai tại khu vực Đền Hạ (Đền Hùng ngày nay).
          Khi đến đền Tổ Mẫu Âu Cơ tại Khu Di tích lịch sử Đền Hùng, đồng bào và du khách sẽ leo 553 bậc đá qua Tam quan, trụ biểu, nhà bia, lên tới đền chính, 2 bên có nhà tả vu, hữu vu. Trong hậu cung, là nơi đặt khám thờ có tượng mẹ Âu Cơ được đúc bằng chất liệu đồng, dát vàng bên ngoài. Tượng là sự kết tinh và hội tụ những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: Hiền dịu, phúc hậu, đoan trang, cùng với tâm thế bình dị, ung dung.
          Hàng năm, vào các ngày lễ chính: Ngày Mẫu thăng (ngày 25 tháng Chạp); Mẫu giáng (mùng 7 tháng Giêng); ngày giỗ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân (6/3 âm lịch) tại Đền Tổ Mẫu Âu Cơ trong Khu Di tích lịch sử Đền Hùng đều tổ chức lễ dâng hương trang trọng. Theo nghi thức truyền thống, lễ vật thường có: Bánh chưng, bánh Giầy, bánh giằng, thủ lợn, ván xôi, trầu têm cánh phượng, hoa ngũ sắc...        
Về Đền Hùng được thắp nén hương trên ban thờ Tổ Mẫu Âu Cơ và Quốc Tổ Lạc Long Quân - những bậc tiền nhân sinh ra cộng đồng dân tộc Việt và tưởng nhớ các Vua Hùng - những người có công dựng nước là phong tục có từ lâu đời, đã trở thành nét đẹp văn hoá tiêu biểu, thể hiện “chữ Hiếu”, lòng biết ơn và triết lý “con người có Tổ, có tông”. Đền Hùng là điểm hội tụ tâm linh vẹn tròn, là trung tâm thực hành tín ngưỡng đạo hiếu của mỗi người con mang trong mình dòng máu Lạc Hồng. Hàng năm, vào dịp tháng 3 về, hàng triệu người con đất Việt về thăm viếng, thắp hương, cầu mong Cha Rồng, Mẹ Tiên, các Vua Hùng ban phúc, để nước Việt mãi trường tồn, nhà nhà ấm no, hạnh phúc…
III.3.3- Đền Mẫu Âu Cơ Đầm Đa
Đền Mẫu Âu Cơ Đầm Đa thuộc khu du lịch Mẫu Đầm Đa tọa lạc tại địa phận xã Phú Lão, huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình (nay là xã ). Ngôi đền nằm ẩn mình trên sườn núi So (hay còn gọi là núi Thờ), mặt quay hướng Đông Bắc, hướng ra lòng thung.
Đền Mẫu Âu Cơ là điểm đến tâm linh thu hút đông đảo du khách thập phương không chỉ vì sự linh thiêng mà còn bởi cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, tuyệt đẹp gồm hệ thống chùa, hang động gắn liền với dấu ấn sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ như: chùa Tiên, động Tiên, động ông Hoàng Bảy, động Cô Chín, động Suối Vàng Suối Bạc, động ông Hoàng Mười, động Cung Tiên, động ông Hoàng Bơ, động thạch nhũ, hang Hồ…
Theo những tài liệu và hình ảnh được lưu giữ qua nhiều thế hệ, đền Mẫu Đầm Đa cổ là một ngôi nhà sàn với nguyên liệu xây dựng chủ yếu bằng chất liệu tre, nứa, lá,… Trong đền đồ thờ tự duy nhất chỉ có một bát hương cổ được đặt chính giữa trên kệ thờ của đền.
Sau nhiều năm tháng đi qua, do tác động của thiên nhiên, ngôi đền dần bị hư hỏng và ngày càng xuống cấp. Năm 1994, đền được tu sửa bằng gỗ mái lợp ngói. Năm 1999, đền được xây mới lại trên nền đất cũ, có kiểu dáng kiến trúc như hiện nay. Đền Mẫu Đầm Đa được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống của người Việt, với kết cấu nhà sàn kiên cố bằng xi măng cốt thép. Ngôi đền có chiều dài hơn 8m, rộng 5,50m, cao 5,60m, với hai lối lên xuống hai bên. Phía trước là khoảng sân rộng được láng xi măng, xung quanh xây bao lan can. Trần đổ cuốn vòm, phía trên mái được ốp ngói giả kiểu ngói ống.
          Trong đền có 3 ban thờ, các ban thờ được ốp bằng gạch men màu nâu, dài 1,60m, rộng 2,15m.
+ Chính giữa là tượng Quốc Mẫu Âu Cơ, cao 1,15m. Đầu đội vương miện, khuôn mặt tròn, đôn hậu, môi đỏ, mắt nhìn thẳng, tai to, cổ đeo các vòng tràng hạt màu đỏ, trắng, tím, hai tay được đặt chồng lên nhau theo thế tam muội ấn. Tượng mặc áo dài màu đỏ, được đặt trong khám. Khảm cao: 1,85m, dài 1,25m, được sơn son thiếp vàng. Khảm được chạm lộng hoa văn với đề tài lưỡng long chầu nguyệt và tứ linh, tứ quý.
+ Ban bên phải (nhìn từ ngoài vào) là ban thờ tượng các cô, các nàng (người hầu cận).
+ Ban bên trái (nhìn từ ngoài vào) là ban thờ tượng cha Lạc Long Quân; tượng ngồi, được đặt cao, khuôn mặt cương nghị, môi đỏ, mắt nhìn thẳng, tai to, mặc áo triều phục màu vàng.
          Các cấp dưới tượng, bài trí các đồ thờ tự như mâm bồng, đèn nến… Đặc biệt ở giữa đặt bát hương đồng trang trí lưỡng long chầu nguyệt, cao 0,30m, đường kính miệng 0,31m.
          Từ xưa đến nay, bởi sự linh thiêng huyền diệu của Tổ Mẫu Âu Cơ, đền Mẫu là địa điểm thu hút khá đông khách trong suốt cả năm. Họ tìm về để cầu xin Quốc Mẫu ban cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, dân chúng ấm no, hạnh phúc. Hàng năm, Lễ hội đền Đầm Đa thường kéo dài từ đầu tháng Giêng cho tới khoảng giữa tháng ba âm lịch.
- Ngày 10/3 âm lịch: Lễ hội tưởng nhớ công ơn của Tổ Mẫu Âu Cơ, người mẹ của dân tộc Việt Nam.
- Ngày 10/10 âm lịch: Lễ hội chính của đền, thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương tham gia.
IV- Giải pháp bảo tồn
Nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản, kết nối giá trị văn hóa, giá trị tâm linh của đền Mẫu Âu Cơ và tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ đã phối hợp với Hội Di sản Văn hóa Việt Nam và Chính quyền địa phương tổ chức Hội thảo khoa học - thực tiễn “Đền Mẫu Âu Cơ, tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ - Bảo tồn và phát huy giá trị”, ngày 12/10/2023.
Hội thảo được tổ chức nhằm nhận diện giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, tín ngưỡng, tâm linh của di tích đền Mẫu Âu Cơ, bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể; đánh giá toàn diện và cụ thể thực trạng bảo vệ, phát huy giá trị di tích, tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ. Từ đó, đề xuất, kiến nghị các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di tích đền Mẫu Âu Cơ, tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ gắn với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Tại Hội thảo, các đại biểu, các nhà nghiên cứu, học giả tập trung phân tích, đánh giá khách quan, khoa học về các giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc, khảo cổ... của đền Mẫu Âu Cơ, tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ, với 03 nhóm nội dung chính: đền Mẫu Âu Cơ, tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ - định hướng bảo tồn và quy hoạch; đền Mẫu Âu Cơ, tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ - giá trị và biện pháp bảo vệ; đền Mẫu Âu Cơ, tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ và sự phát triển bền vững Hạ Hòa, Phú Thọ. Đồng thời, các đại biểu cũng đưa ra một số giải pháp giúp chính quyền địa phương thực hiện hiệu quả hơn công tác giữ gìn, phát huy giá trị di sản văn hóa đền Mẫu Âu Cơ, tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ, đưa các giá trị di sản văn hóa thành lợi thế phát triển du lịch, thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển nhanh, bền vững, giúp nâng cao vị thế của đền Mẫu Âu Cơ, huyện Hạ Hòa xứng tầm với ý nghĩa vốn có của di tích trong tâm thức người Việt và làm cơ sở để hoàn thiện hồ sơ trình cấp có thẩm quyền công nhận di tích quốc gia đặc biệt.
          Tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ là một di sản văn hóa hết sức đặc sắc của người Việt với đầy đủ các biểu tượng, huyền thoại, ký ức, giá trị, nghi lễ và truyền thống. Được ra đời và tồn tại trên vùng đất Tổ, gắn liền và phản ánh sinh động huyền thoại Lạc Long Quân - Âu Cơ và bọc trăm trứng, được coi là biểu tượng về nguồn cội thiêng liêng, cao quý của dân tộc, tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ trở thành tài sản văn hóa vô giá của sức mạnh đoàn kết của cả quốc gia dân tộc Việt Nam. Chính vì vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ cần được bảo vệ một cách tổng thể ở tầm quốc gia đặc biệt bởi vì ở đó chứa đựng một tập quán có từ lâu đời, được phát triển trở thành tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ ngày nay. Đền Mẫu ở Hạ Hòa là nơi khởi nguồn và lan tỏa tín ngưỡng này. Việc bảo vệ di tích, di sản mang lại những lợi ích, ý nghĩa sâu sắc đối với cộng đồng địa phương và với quốc gia, dân tộc.
 PGS. TS. Đỗ Văn Trụ - Chủ tịch Hội Di sản Văn hóa Việt Nam nhấn mạnh rằng: “Để tiếp tục bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích đền Mẫu Âu Cơ, Hội Di sản văn hóa Việt Nam đồng ý nhất trí cao với tỉnh Phú Thọ về việc nâng cấp xếp hạng đền là di tích quốc gia đặc biệt. Bên cạnh đó, việc tu bổ, tôn tạo di tích cần phù hợp với quy hoạch chung của địa phương để tạo lập môi trường cảnh quan di tích lịch sử văn hóa hài hòa, hấp dẫn. Trong công tác quy hoạch cần tuân thủ về quy định bảo tồn khu di tích, phù hợp với cảnh quan môi trường xung quanh, và tăng cường công tác truyền thông quảng bá di tích trên các phương tiện thông tin đại chúng; các bài thuyết minh di tích phải phù hợp với từng đối tượng du khách; bên cạnh đó, cần xây dựng các tour tham quan di tích đền Mẫu Âu Cơ kết hợp với các điểm di tích, văn hóa tâm linh khác trên địa bàn”.
Tỉnh Phú Thọ hiện có 4.758 di sản đã được kiểm kê. Trong đó 2.778 địa điểm có di tích với nhiều loại hình như: Lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ, danh lam thắng cảnh. Số lượng di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng quốc gia đặc biệt: 06 di tích (Khu di tích lịch sử Đền Hùng; Danh thắng Tây Thiên, Tháp Bình Sơn, đình Thổ Tang, cụm đình Hương Canh; Hang Xóm Trại và Mái đá Làng Vành); 176 di tích quốc gia và 797 di tích cấp tỉnh.
Để bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa, trong những năm qua, Phú Thọ đã tập trung thu hút các nguồn lực, nhất là nguồn lực xã hội hóa để đầu tư tôn tạo, tu bổ hệ thống các di tích gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Công tác bảo tồn giá trị di sản văn hóa tỉnh Phú Thọ đã góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển của địa phương.
 Kết luận
Tín ngưỡng thờ Quốc Mẫu Âu Cơ nói riêng, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung, không chỉ là điểm tựa tâm linh mà còn thể hiện tư tưởng đạo đức, lối sống, ý thức đoàn kết, mang ý nghĩa giáo dục truyền thống sâu sắc. Việc khai thác giá trị “hồn cốt” các di sản văn hóa Hùng Vương trong đó có “Tín ngưỡng thờ Quốc Mẫu Âu Cơ nhằm phát triển du lịch hay nói theo cách khác, đưa khách du lịch đến tham quan và trải nghiệm các di sản văn hóa Hùng Vương là cách tốt nhất để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Thông qua hoạt động trải nghiệm, nhận thức của cả du khách lẫn người dân về giá trị di sản văn hóa được nâng cao. Đó chính là nét độc đáo, là bản sắc văn hóa Việt Nam mà Phú Thọ có vinh dự là điểm khởi nguồn.
 Có thể khẳng định rằng trong tiến trình phát triển của lịch sử, ở mỗi giai đoạn khác nhau, người dân Phú Thọ đều có sự sáng tạo nên những thang bậc giá trị văn hóa mới, sức mạnh tinh thần mới, đáp ứng yêu cầu mới của lịch sử và sự phát triển của đất nước. Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa Hùng Vương nói riêng là phương cách hữu hiệu góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” nói chung, “Tín ngưỡng Quốc Mẫu Âu Cơ” nói riêng, không chỉ là điểm tựa tâm linh mà còn thể hiện tư tưởng đạo đức, lối sống, ý thức đoàn kết, mang ý nghĩa giáo dục truyền thống sâu sắc. Việc khai thác giá trị “hồn cốt” các di sản văn hóa Hùng Vương trong đó có “Tín ngưỡng Quốc Mẫu Âu Cơ” nhằm phát triển du lịch hay nói theo cách khác, đưa khách du lịch đến tham quan và trải nghiệm các di sản văn hóa Hùng Vương là cách tốt nhất để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Thông qua hoạt động trải nghiệm, nhận thức của cả du khách lẫn người dân về giá trị di sản văn hóa được nâng cao. Đó chính là nét độc đáo, là bản sắc văn hóa Việt Nam mà Phú Thọ có vinh dự là điểm khởi nguồn.
Văn hóa không chỉ là tài sản để cất giữ, để tự hào mà phải được coi là tài nguyên để khai thác, là “sức mạnh mềm” của đất nước để có thể mở rộng hợp tác và cạnh tranh sòng phẳng trên trường quốc tế.
Thiết nghĩ, bản sắc văn hóa dân tộc chính là “hồn cốt” văn hóa của một dân tộc. “Hồn cốt” đó còn thì dân tộc còn, nếu “hồn cốt” đó mất thì dân tộc sẽ mất. Bảo tồn và phát huy Tín ngưỡng thờ Quốc Mẫu Âu Cơ ở Phú Thọ sẽ có những đóng góp tích cực vào việc bảo tồn và phát huy giá trị “hồn cốt” văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung và ở tỉnh Phú Thọ nói riêng./.
                                                                                                                                                       Tháng 10/ 2025

                                                                                                                                                       Phạm Bá Khiêm



 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây